Đầu tư dài hạn là việc nắm giữ cổ phiếu trong một khoảng thời gian kéo dài nhiều năm. Nhiều chuyên gia vẫn đánh giá đầu tư dài hạn là hình thức đầu tư an toàn hơn và mang đến cho nhà đầu tư hiệu suất tốt hơn. Việc đầu tư dài hạn giúp bạn tránh được những biến động ngắn hạn của thị trường cũng như giữ được tâm lý giao dịch tốt hơn. Từ đó mang đến lợi nhuận bền vững và ổn định trong tương lai.

Tuy nhiên không phải cứ nắm giữ cổ phiếu dài hạn là sẽ mang lại kết quả đầu tư tốt. Chúng ta có thể thấy điều này qua biến động giá của HPG và DPM trong 10 năm qua. Trong khi thị giá của HPG tăng trưởng không dưới 4 lần thì thị giá của DPM chỉ đi ngang và thậm chí còn giảm. Vậy làm thế nào để chúng ta có thể ước lượng được mức độ lợi nhuận cũng như rủi ro của cổ phiếu trước khi ra quyết định đầu tư?

Trong đầu tư dài hạn, bên cạnh việc phân tích các yếu tố cơ bản của doanh nghiệp, chúng ta còn có thể sử dụng phương pháp thống kê định lượng để ước lượng mức độ lợi nhuận và rủi ro kỳ vọng của cổ phiếu. Ở đây chung ta làm quen với 2 khái niệm: Lợi nhuận kỳ vọng và rủi ro kỳ vọng.

Lợi nhuận kỳ vọng

Để hiểu khái niệm rủi ro kỳ vọng, chúng ta bắt đầu bằng câu hỏi: Nếu hiện tại bạn đầu tư vào cổ phiếu A thì sau 1 năm bạn có thể kỳ vọng thu được lợi nhuận là bao nhiêu?

Thực tế thì chúng ta không thể biết trước được tương lai, tuy nhiên chúng ta có thể dựa vào quá khứ để ước lượng giá trị gần đúng trong tương lai. Bằng việc xem xét những sự kiện tương đồng trong quá khứ (nắm giữ cổ phiếu trong 1 năm), chúng ta ước lượng giá trị kỳ vọng trong tương lai.

Giả sử cổ phiếu A chào sàn ngày 2/1/2018 với giá đóng cửa ngày đầu tiên là 10.000đ. Sau một năm, vào ngày 2/1/2019 giá đóng cửa của cổ phiếu A là 11.000đ. Như vây sau một năm cổ phiếu A đã tăng trưởng 10% thị giá. Chúng ta có được giá trị quan sát thứ nhất.  Tiếp tục so sánh giá đóng cửa ngày 3/1/2018 với giá đóng cửa ngày 3/1/2019 chúng ta được giá trị quan sát thứ hai (giả sử ở 15%). Tiếp tục so sánh các cặp giá đóng cửa sau khoảng thời gian 1 năm, chúng ta sẽ rút ra được các giá trị quan sát của lợi nhuận từ việc nắm giữ cổ phiếu A trong vòng một năm.

Để tính lợi nhuận kỳ vọng, chúng ta lấy trung bình cộng của các giá trị quan sát được. Giả sử từ cổ phiếu A chúng ta rút ra được 3 giá trị mẫu là 10%, 15% và 14%, giá trị lợi nhuận kỳ vọng của cổ phiếu A sẽ là (10% + 15% + 14%)/3 = 13%

Rủi ro kỳ vọng

Chúng ta vẫn thường hiểu rủi ro là sự không may mắn, sự tổn thất mất mát, nguy hiểm. Trong đầu tư, nó là những sự kiện bất ngờ gây nên tổn thất về tài sản hoặc làm giảm lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến. Vậy làm thế nào để có thể đo lường được rủi ro trong đầu tư?

Trước khi đến với đơn vị tính rủi ro, chúng ta cùng nhìn lại ví dụ về cổ phiếu A ở phần trước.Với con số lợi nhuận kỳ vọng 13%/năm đã đủ để bạn chắc chắc về lợi suất trong một năm tới của cổ phiếu A?

Từ dữ liệu quá khứ chúng ta cũng có thể thấy lợi nhuận thực tế luôn có sự sai khác so với con số lợi nhuận kỳ vọng. Sự sai khác này chính là cơ sở để ước lượng rủi ro dựa vào số liệu quá khứ. Ở đây, mặc dù lợi nhuận kỳ vọng của chúng là là 13% tuy nhiên sẽ có năm lợi nhuận thực tế chỉ đạt 10% thấp hơn so với kỳ vọng. Cũng có năm lợi sẽ đạt 15% cao hơn so với kỳ vọng của chúng ta. Do đó, khi đo lường rủi ro, thay vì chỉ đo lường mức độ sụt giảm chúng ta sẽ đo lường cả hai chiều tăng và giảm so với lợi nhuận kỳ vọng. Rủi ro càng lớn có nghĩa là lợi nhuận thực tế có thể thấp hơn hoặc cao hơn rất nhiều so với lợi nhuận kỳ vọng ban đầu.

Trong quản lý danh mục đầu tư, các nhà quản lý thường sử dụng độ lệch chuẩn (standard deviation) để đo lường mức độ rủi ro của cổ phiếu. Hiểu một cách đơn giản, độ lệch chuẩn đo lường độ lệch tuyệt đối giữa giá trị quan sát được và giá trị kỳ vọng (trung bình cộng của các giá trị quan sát được). Công thức tính giá trị kỳ vọng như sau:

s=(xi-x)2n-1

Trong đó:

xi  là giá trị lợi nhuận thực tế của quan sát thứ i trong tập dữ liệu

x  là giá trị lợi nhuận kỳ vọng

n  là tổng số quan sát trong tập dữ liệu

Với ví dụ về cổ phiếu A chúng ta có thể tính được độ lệch chuẩn là 2.64%. Như vậy so với lợi nhuận kỳ vọng, lợi nhuận thực tế của cổ phiếu A sẽ có độ lệch trung bình khoảng 2.64%.